• Thứ hai 06/07/2020 12:27

Cải cách điều kiện kinh doanh: Chuyển mạnh sang hậu kiểm

09/04/2020

“Dư địa còn nhiều, thời gian tới cần có bước cải cách thực chất hơn, tạo đột phá mới về cải cách điều kiện kinh doanh (ĐKKD) bằng cách thay đổi cách thức quản lý nhà nước về ĐKKD và chuyển mạnh sang hậu kiểm” - đó là chia sẻ của bà Nguyễn Minh Thảo - Trưởng ban, Ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương- CIEM).

Thời gian qua, liên tục nói về cắt giảm ĐKKD, cho đến thời điểm này, bức tranh cắt giảm ĐKKD của Việt Nam có gì mới?

Từ năm 2016 đến nay, chúng ta có những đợt sóng khác nhau liên quan đến cải cách ĐKKD. Cụ thể, năm 2016 bắt đầu từ cấp nghị định trở lên, đến năm 2018, cắt giảm 50% số ĐKKD. Năm 2019, có nhiều sự kiện liên quan đến hội thảo, hội nghị về những cải cách ĐKKD. Tại thời điểm đó mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể, hoặc rà soát về số lượng cắt giảm ĐKKD. Tuy nhiên, đến năm 2020, chúng ta có thông điệp mới hơn về cải cách này. Thứ nhất, không chỉ rà soát ĐKKD mà còn đánh giá ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; từ đó, nhận diện thực sự đâu là ngành nghề cần thiết để đưa vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

cai cach dieu kien kinh doanh chuyen manh sang hau kiem
Tập trung mạnh vào hoạt động hậu kiểm để doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm

Thứ hai, đó là khái quát được các vấn đề về ĐKKD nằm trong các quy định hiện hành và những điểm đáng lưu ý. Từ đó, có những đề xuất, kiến nghị mang tính chất đột phá trong cải cách điều kiện đầu tư kinh doanh trong giai đoạn tiếp theo. Ví dụ như áp dụng về hoạt động quản lý rủi ro trong ĐKKD, tập trung mạnh vào hoạt động hậu kiểm để doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm, tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cơ quan nhà nước nâng cao năng lực về hậu kiểm, giám sát cả quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó là cơ hội rà soát, đánh giá lại từng lĩnh vực cụ thể, đâu là những ĐKKD cần tiếp tục cắt giảm. Bởi còn rất nhiều điểm ĐKKD bất hợp lý không cần thiết, không có ý nghĩa quản lý, hoặc là sửa đổi, hoặc chủ yếu mang tính hình thức hơn là thực chất. Ngoài ra, những danh mục, yêu cầu về đào tạo, cấp chứng chỉ cũng được đánh giá lại tính hiệu quả của các chứng chỉ đó đến đâu; phân cấp thế nào cho xã hội hóa đối với các hoạt động về đào tạo cũng như cấp chứng chỉ, tránh đổ dồn các tình trạng cấp chứng chỉ đào tạo về cấp bộ.

Giai đoạn đầu tiên có bước cải cách về cắt giảm số lượng, nhưng giai đoạn tiếp theo cần nhấn mạnh hơn về chất lượng của từng ĐKKD hiện hành, từ đó có bước cải cách thực chất cho doanh nghiệp. Điểm quan trọng trong kiến nghị lần này tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện. Chúng ta có cải cách ĐKKD trên quy định nhưng tổ chức thực thi là nội dung mà chúng ta còn bỏ ngỏ. Vì thế, những thay đổi, nghiên cứu, phát hiện lần này sẽ bổ sung thêm vào việc cải cách mạnh mẽ về thực thi.

Vậy bà đánh giá thế nào về chất lượng cải cách ĐKKD trong khoảng 2 năm trở lại?

Đối với cải cách ĐKKD, chúng ta thực hiện khá tích cực trong 3 năm từ năm 2017 -2019, nhưng thực hiện chủ yếu nhiều nhất là năm 2018 khi ban hành hơn 20 Nghị định liên quan đến ĐKKD năm 2018. Về chất lượng của cải cách ĐKKD có sự khác nhau về các bộ, ngành, có những bộ, ngành thực sự có cắt giảm. Bản thân trong bộ, ngành có từng lĩnh vực khác nhau, cũng có những cải cách về chất lượng khác nhau. Tuy nhiên, đánh giá chung, chúng ta chủ yếu cắt bỏ những điều kiện bất hợp lý, hoặc tạo ra rào cản, khó cho doanh nghiệp. Trong khi những ĐKKD là rào cản thì vẫn là những điều kiện đó, nhưng mức độ yêu cầu giảm bớt đi.

Bà có thể đưa ra dẫn chứng cụ thể mà doanh nghiệp gặp phải?

Trên thực tế, ngoài việc cắt giảm chủ yếu các yêu cầu về số lượng, hầu hết trong các lĩnh vực, chúng ta đơn giản hóa nhiều hơn cắt bỏ. Đơn giản hóa, giảm bớt yêu cầu như yêu cầu 3 nhân viên thì bây giờ yêu cầu 2 nhân viên hoặc yêu cầu diện tích, trước đây là 5m2 thì bây giờ yêu cầu giảm đi 3m2. Việc đưa ra những yêu cầu đó không có cơ sở cụ thể nào cho việc đề xuất tại sao là 3 cán bộ, tại sao 5 m2. Những tiêu chí đó không rõ ràng. Dường như các ĐKKD chủ yếu cắt về số lượng. ĐKKD vẫn còn tồn tại, bởi đó là điều kiện tham chiếu các quy định pháp luật chuyên ngành khác. Điều kiện như vậy là “điều kiện nằm trong điều kiện”, “giấy phép nằm trong giấy phép”, tồn tại khá phổ biến. Đặc biệt ở lĩnh vực an ninh trật tự, chứng chỉ, để cấp chứng chỉ cũng phải có yêu cầu về điều kiện.

Theo bà, chúng ta cần có những điều kiện, tiêu chuẩn nào để xây dựng Danh mục các ngành nghề có điều kiện?

Đối với ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Luật Đầu tư đã nêu rõ những ngành nghề ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng hoặc sức khỏe cộng đồng là những ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên trong rà soát, có sự chưa rõ ràng khi các bộ, ngành đề xuất về ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Ví dụ như đối với kinh doanh thực phẩm, mặt hàng thực phẩm được quản lý bởi các quy chuẩn kỹ thuật hay tiêu chuẩn kỹ thuật hàng hóa, đó không phải là ĐKKD đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên chúng ta đang không có sự thống nhất trong việc xác định ngành nghề này giữa các bộ, ngành. Đây cũng chính là một trong những gợi ý để Quốc hội có những đánh giá toàn diện hơn khi quyết định lựa chọn danh mục ngành nghề này.

Xin cảm ơn bà!

Theo báo cáo rà soát của CIEM, đến hết năm 2019, hơn 30 văn bản về ĐKKD được ban hành; cắt giảm hơn 50% số ĐKKD.

Thu Phương (ghi)

Scroll