• Thứ sáu 21/09/2018 00:31

Chênh lệch giá xuất khẩu quặng: Do khác nhau về chủng loại

23/06/2018

(VEN) - Theo đánh giá ban đầu của Bộ Công Thương, mức giá quặng xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc chênh lệch cao so với các thị trường khác chủ yếu là do khác nhau về chủng loại.

chenh lech gia xuat khau quang do khac nhau ve chung loai
Cần sớm ban hành giá tính thuế XK tối thiểu đối với các loại khoáng sản

Do giá kim loại và khoáng sản giảm sâu, việc chế biến sâu một số khoáng sản gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án phải ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng, thu hút đầu tư vào các dự án chế biến khoáng sản theo quy hoạch gặp khó khăn, Chính phủ đã có chủ trương không xuất khẩu (XK) một số loại khoáng sản để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất, chế biến sâu ở trong nước. Tuy nhiên, thời gian gần đây có một số sản phẩm khoáng sản như quặng sắt, quặng titan ở trong nước cung vượt xa cầu, tồn kho cao, các DN gặp rất nhiều khó khăn, người lao động không có việc làm, điều này đã ảnh hưởng lớn đến vấn đề an sinh xã hội, phát triển kinh tế, xã hội ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc.

Từ những lý do nêu trên, bên cạnh việc XK các sản phẩm khoáng sản trong nước sản xuất, chế biến phục vụ XK, Chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp (DN) XK một số loại khoáng sản đang tồn kho gồm: Tinh quặng titan, tinh quặng sắt (quặng sắt tồn kho và limonit), đá ốp lát dạng khối, đá hoa trắng dạng khối. Theo đó, Bộ Công Thương đã phối hợp với UBND các tỉnh kiểm tra, giải quyết cho các DN hoạt động kinh doanh, khai thác quặng sắt trong năm 2017 XK với khối lượng 398.000 tấn quặng sắt manhetit và 302.500 tấn quặng sắt limonit. Đồng thời, giải quyết cho 17 DN có tinh quặng ilmenite tồn kho được XK 940.000 tấn tính đến ngày 30/4/2018.

Tuy nhiên, theo phản ánh của một số cơ quan truyền thông, dẫn số liệu thống kê 4 tháng đầu năm 2018 của Tổng cục Hải quan, lượng quặng và các loại khoáng sản XK là 1,5 triệu tấn, giá trị XK đạt hơn 65,5 triệu USD, bình quân giá quặng XK đạt 988.000 đồng/tấn. Trong đó, chỉ tính riêng thị trường Trung Quốc, lượng quặng và khoáng sản của Việt Nam xuất sang thị trường này chiếm tới 80% tổng lượng XK (gần 1,2 triệu tấn), giá trị kim ngạch đạt hơn 29 triệu USD, giá XK trung bình chỉ đạt 560.000 đồng/tấn. Trong khi đó, hơn 333.000 tấn quặng, khoáng sản còn lại được xuất sang các thị trường khác có giá khá cao, đạt gần 2,5 triệu đồng/tấn (gấp gần 5 lần so với xuất sang Trung Quốc). Như vậy, giá trị XK của quặng Việt Nam sang thị trường Trung Quốc rẻ hơn rất nhiều so với xuất đi các thị trường khác.

Lý do giá quặng Việt Nam XK vào thị trường Trung Quốc thấp hơn giá XK sang các thị trường khác, căn cứ theo thông tin phản ánh của báo chí và Tổng cục Hải quan cung cấp, Bộ Công Thương nhận định: Giá đó mới chỉ là giá thành sản xuất, hoặc giá mua quặng của các DN trong nước cộng với chi phí vận chuyển đến cửa khẩu, chưa bao gồm có thuế XK (từ 5-40%, trong đó cao nhất là quặng sắt và quặng titan có thuế suất 40%), lợi nhuận và chưa tính đến độ ẩm tự nhiên và các yếu tố giảm trừ khác làm tăng khối lượng XK, làm giá xuất XK (quặng sắt mỏ Quý Xa có độ ẩm tự nhiên là 17-20%). Nếu tính đầy đủ các yếu tố, giá XK quặng sang thị trường Trung Quốc sẽ không thấp hơn nhiều so với giá bán quặng cùng chủng loại, cùng chất chất lượng XK đi các thị trường khác trên thế giới.

Theo nhận định của Bộ Công Thương, các loại khoáng sản XK vào thị trường Trung Quốc, mặc dù có khối lượng lớn, nhưng lại là loại khoáng sản có giá trị không cao (quặng sắt...). Ngược lại, khoáng sản XK đi các thị trường khác trên thế giới có khối lượng tuy nhỏ, nhưng thường là các loại khoáng sản có giá trị cao hơn nhiều so với loại quặng XK vào thị trường Trung Quốc. Chẳng hạn như bột zircon XK sang các thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản có giá 1.530 USD/tấn; bột silicat siêu mịn xuất sang thị trường khác có giá trị 1.600 USD/tấn, alumin có giá trị 500 USD/tấn,... Trong khi những loại quặng có giá trị cao, rất ít hoặc là thậm chí không XK vào thị trường Trung Quốc.

Bộ Công Thương khẳng định, trong quá trình kiểm soát hoạt động XK khoáng sản, Bộ đã xây dựng và áp dụng đầy đủ, chặt chẽ quy định về truy xuất nguồn gốc. Ngoài ra, với tất cả các loại quặng, khoáng sản khi XK, tổ chức, cá nhân phải xuất trình cho cơ quan hải quan hồ sơ chứng minh nguồn gốc khoáng sản hợp pháp.

Trong thời gian tới, để tiếp tục tăng cường công tác quản lý hoạt động XK quặng, khoáng sản, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục làm việc với các bộ, ngành, địa phương, Tổng cục Hải quan để làm rõ số lượng, chủng loại các loại khoáng sản XK để có thông tin chi tiết phục vụ công tác quản lý. Đặc biệt, để giá XK các loại khoáng sản theo sát biến động giá thị trường thế giới, Bộ Công Thương cũng kiến nghị Bộ Tài chính và UBND các địa phương nghiên cứu, sớm ban hành giá tính thuế XK tối thiểu đối với các loại khoáng sản.

Hiện nay, Bộ Công Thương chỉ thực hiện công tác quản lý nhà nước về cấp phép XK đối với các loại khoáng sản chế biến từ quặng titan, sản phẩm chế biến từ quặng bôxít, tinh quặng bismut, tinh quặng niken, bột ôxit đất hiếm riêng rẽ, tinh quặng fluorit, bột barit, đá hoa trắng, tinh quặng graphit, và không có thẩm quyền quản lý về giá xuất khẩu.

Lan Ngọc

Mới nhất
Scroll