• Thứ bảy 23/03/2019 16:41
Chủ động phòng vệ thương mại:

Doanh nghiệp tự tin trên sân chơi hội nhập

06/01/2019

Những năm trở lại đây, cùng với sự hội nhập phát triển của nền kinh tế, Việt Nam đã chứng kiến sự bùng nổ của các biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM). Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) xuất-nhập khẩu (XNK) đang phải tự thay đổi, chủ động biện pháp phòng vệ khi ra “biển lớn”, bảo vệ chính mình và ngành hàng.  

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Chuyên đề Kinh tế Việt Nam (Báo Công Thương) đã có cuộc trao đổi với ông Lê Triệu Dũng – Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương).

Thưa ông, xin ông cho biết tổng quát về thực trạng PVTM hiện nay của Việt Nam và những kết quả đạt được trong thời gian qua?

Tính đến tháng 11 năm 2018, đã có hơn 141 vụ việc khởi xướng điều tra PVTM có liên quan tới hàng xuất khẩu (XK) của Việt Nam, gồm 81 vụ việc chống bán phá giá (CBPG), 14 vụ việc chống trợ cấp, 27 vụ việc tự vệ và 19 vụ việc lẩn tránh thuế CBPG và chống trợ cấp. Các sản phẩm của Việt Nam bị điều tra PVTM khá đa dạng, tập trung nhiều ở các sản phẩm kim loại (thép, nhôm), nông-thủy sản (tôm, cá tra) và sợi.

Đặc biệt, trong giai đoạn từ 2016 đến 11/2018, đã có 44 vụ kiện PVTM được khởi xướng điều tra có liên quan đến hàng hóa XK của Việt Nam, có 27 vụ việc đã kết thúc điều tra. Trong đó có 9 vụ việc đạt kết quả khả quan (không áp thuế, thuế thấp dưới 5% hoặc chấm dứt điều tra), chiếm tỷ lệ 34,6%. Kết quả này là nhờ sự tích cực tham gia kháng kiện của cả Chính phủ và DN trong quá trình ứng phó vụ việc.

doanh nghiep tu tin tren san choi hoi nhap
Ông Lê Triệu Dũng - Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương)

Đơn cử như, vụ việc rà soát thuế CBPG lần thứ 12 với tôm (thuế giảm từ 25,39% xuống còn 4,78%) và rà soát thuế CBPG cá tra lần thứ 14 (thuế giảm so với rà soát lần thứ 13 từ 2,39 USD/kg – 7,74 USD/kg xuống còn 0,00 USD/kg – 2,39 USD/kg) của Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

Các vụ việc khởi kiện nước ngoài ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trong 3 vụ việc đã ban hành kết luận cuối cùng, Việt Nam đều đạt được kết luận có lợi, từ đó làm căn cứ tiếp tục đấu tranh với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho DN XK của Việt Nam.

Ông đánh giá như thế nào về thái độ của các DN trong nước khi phải đối mặt với các vụ kiện PVTM?

Hiện nay, các DN XNK của Việt Nam phần nào đã nhận thức được tầm quan trọng và tác động của các vụ kiện PVTM tới hoạt động sản xuất kinh doanh, XK. Do đó, các DN đã chủ đông tìm hiểu những kiến thức và chủ động tham gia xử lý vụ việc. Từ những vụ kiện đã qua, các DN cũng đã tích lũy ngày càng nhiều kinh nghiệm xử lý cần thiết khi vụ việc xảy ra.

Tại một số DN, đã thành lập các phòng/đơn vị chuyên môn để giải quyết vấn đề PVTM vì hàng năm cơ quan điều tra nước ngoài có thể rà soát biện pháp đang áp dụng bất kỳ khi nào. Thêm vào đó, các DN cũng đoàn kết để cùng ứng phó với vụ việc vì hệ quả của vụ việc không chỉ tác động đến những DN tham gia mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ ngành XK sản phẩm đó của Việt Nam. Một số DN cũng rất tích cực phối hợp, trao đổi với các cơ quan Chính phủ để chia sẻ thông tin, hợp tác xử lý vụ việc.

Tuy nhiên, sản phẩm bị kiện PVTM rất đa dạng nên đôi khi các ngành hàng mới bị kiện công tác xử lý chưa thực sự hiệu quả. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như: Mức độ hiểu biết của một số các DN XNK của Việt Nam về PVTM còn hạn chế, chưa có nhiều kinh nghiệm kháng kiện, chưa có kế hoạch đầu tư hợp lý vào việc kháng kiện cũng như chưa có chiến lược, định hướng rõ ràng, quyết tâm và chuyên nghiệp khi kháng kiện. Ngoài ra, năng lực tài chính của các DN Việt Nam còn yếu, trong khi chi phí để kháng kiện rất cao, để thành công có thể cần phải thuê luật sư tư vấn dày dạn kinh nghiệm từ chính nước khởi xướng điều tra.

Bên cạnh đó, nhiều DN chưa đáp ứng yêu cầu của cơ quan điều tra trong việc cung cấp tài liệu, số liệu, hệ thống lưu giữ tài liệu, hợp đồng, dữ liệu, hoá đơn chưa đầy đủ, khoa học và hệ thống. Vẫn có những DN còn tâm lý né tránh, không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ vào công tác kháng kiện trong khi sự tham gia vào toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc lại có vai trò quyết định cơ hội thành công cho DN.

Theo ông, tình hình PVTM tại nước ta và thế giới sẽ có những chuyển biến như thế nào trong thời gian tới? Và Cục PVTM có khuyến cáo gì tới các DN để bảo vệ mình trước những cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới?

Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ có xu thế gia tăng cũng như căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn, dự kiến tình hình điều tra các vụ việc PVTM trong năm 2019 sẽ diễn biến phức tạp và có nguy cơ gia tăng, ảnh hưởng đến các DN XNK, như: Phạm vi sản phẩm có thể không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều sản phẩm cùng 1 vụ việc; phạm vi các nước/vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng có thể bị mở rộng trong cùng 1 vụ việc; tăng cường sử dụng các biện pháp phi truyền thống, biện pháp mang tính bảo hộ khác ngoài PVTM…

doanh nghiep tu tin tren san choi hoi nhap

Trước tình hình đó, các DN nên tự bảo vệ bằng cách trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về pháp luật PVTM, thường xuyên cập nhật thay đổi pháp luật, thông lệ điều tra. DN cũng cần thường xuyên có hoạt động trao đổi thông tin với hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước, nhằm nắm bắt được những thông tin cảnh báo sớm về khả năng bị khởi kiện tại thị trường XK, từ đó lên phương án điều chỉnh hoạt động kinh doanh để tránh bị khởi kiện.

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho mình trong việc tham gia các vụ kiện PVTM, các DN Việt cần củng cố quan hệ với các bạn hàng, đối tác bên phía nước ngoài. Tiếng nói phản đối việc điều tra của các nhà nhập khẩu cũng sẽ tạo ảnh hưởng tới việc ra quyết định của cơ quan điều tra nước ngoài.

Ngoài ra, nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ bị khởi kiện điều tra PVTM từ các nước khác, DN cần đa dạng hoá thị trường, tìm kiếm thị trường XK mới, đa dạng hoá sản phẩm, tránh tăng trưởng XK quá nóng vào một thị trường, chuyển dần từ chiến lược cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng và thương hiệu.

Trong trường hợp vụ việc đã được khởi xướng điều tra, các DN cần tích cực tham gia vào công tác kháng kiện, hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra để tránh trường hợp cơ quan điều tra sử dụng dữ liệu sẵn có bất lợi, có thể dẫn tới việc DN hoàn toàn mất khả năng cạnh tranh và buộc phải rút khỏi thị trường.

Xin cảm ơn ông!

Thu Hà (Thực hiện)

Mới nhất
Scroll