• Thứ ba 17/07/2018 00:46

Phát triển nuôi ong mật bền vững: Chú trọng an toàn thực phẩm

05/12/2017

(VEN) - Với hệ sinh thái thực vật phong phú, Việt Nam hội đủ mọi điều kiện để phát triển nghề nuôi ong lấy mật. Đáng chú ý, mấy năm gần đây, sản lượng mật ong tăng đáng kể, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 6 thế giới và thứ 2 châu Á về xuất khẩu mật ong. Tuy nhiên, để đảm bảo phát triển bền vững nghề nuôi ong mật, các chuyên gia khuyến cáo cần chú trọng vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm.

Tiềm năng lớn

Nuôi ong hiện đang là đối tượng được ưu tiên trong tái cơ cấu ngành chăn nuôi. Theo số liệu báo cáo của Cục Chăn nuôi, ước tính hiện nay nước ta có gần 1,2 triệu đàn ong gồm các giống ong Ý và ong nội, trong đó số đàn ong nội chiếm 16,6%, ong ngoại chiếm 83,3%, tập trung chủ yếu ở miền núi phía Bắc (khoảng 343 nghìn đàn) và Tây Nguyên (khoảng 357 nghìn đàn). Tổng sản lượng mật ong năm 2016 đạt 47 nghìn tấn.

Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện đứng thứ 6 thế giới và thứ 2 châu Á về xuất khẩu mật ong với 90% sản lượng mật ong hàng năm của Việt Nam được xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ chiếm tới 90-95%, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có sản lượng mật ong xuất khẩu lớn nhất sang thị trường Hoa Kỳ. Còn lại 5-10% xuất khẩu sang thị trường châu Âu.

Mô hình nuôi ong tại huyện Mèo Vạc (Hà Giang)

Tại Hà Giang, nghề nuôi ong nội lấy mật chủ yếu tập trung ở 4 huyện vùng cao núi đá (Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc) với trên 25 nghìn đàn, tổng sản lượng 4,5 tấn mật/năm. Từ năm 2013, khi thương hiệu mật ong bạc hà được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý “Mèo Vạc”, sản lượng và giá trị được nâng lên rõ rệt, giá mật ong tăng lên gấp đôi (500.000 đồng/lít). Ngày 24/10/2016, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ký quyết định về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý “Mèo Vạc” cho sản phẩm mật ong bạc hà tỉnh Hà Giang. Hiện nay đã có 8 hợp tác xã và doanh nghiệp được cấp quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý và tem điện tử thông minh truy xuất nguồn gốc. Sản phẩm mật ong bạc hà đã khẳng định được vị thế vững chắc đối với người tiêu dùng, nghề nuôi ong đã trở thành định hướng sản xuất hàng hóa của vùng, giúp xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người dân.

Theo nghề nuôi ong lấy mật từ 5 năm nay, ông Sùng Sính Vư, thôn Thành Ma Tủng, xã Sả Phìn (Đồng Văn - Hà Giang) đã thuộc nằm lòng những “tính cách” của đàn ong. Sau những bỡ ngỡ, khó khăn ban đầu, đến nay, đàn ong của gia đình ông ngày càng phát triển. Không những thế, ông còn tập hợp những người cùng nghề thành lập Tổ nghề nghiệp nuôi ong xã Sả Phìn với 15 hộ tham gia. Ông Vư cho biết, mật ong bạc hà từ lâu đã trở thành thương hiệu nổi tiếng của vùng cao nguyên đá Hà Giang. Chính vì vậy, sản phẩm của tổ làm ra đến đâu được thị trường tiêu thụ hết đến đó với giá bình quân lên đến 500.000 đồng/lít. Nhờ đầu ra thuận lợi, đến nay, tổ nuôi ong của ông Vư đã phát triển được 500 đàn, sản lượng mật khoảng 1,6 tấn.

Cần tuân thủ nghiêm quy trình kiểm soát chất lượng

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng theo ông Nguyễn Đức Vinh - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hà Giang, nghề nuôi ong mật của tỉnh vẫn còn gặp một số khó khăn như: Công tác quản lý nhãn mác, bao bì, logo chỉ dẫn địa lý, quảng bá và giới thiệu sản phẩm chưa được chú trọng, chưa có sự liên kết chặt chẽ; sản phẩm đã được thị trường và người tiêu dùng chấp nhận nhưng chủ yếu bán lẻ cho người tiêu dùng và người thu gom; một số tổ chức, cá nhân lạm dụng việc nuôi bằng cách cho ăn đường khiến mật ong kém phẩm chất, làm giả mật ong bạc hà làm giảm uy tín của thương hiệu; nhiều hộ chăn nuôi chưa áp dụng đầy đủ các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nên chưa có sự thống nhất theo một quy trình để tạo ra sản phẩm chất lượng.

TS Hạ Thúy Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhận định, hạn chế lớn nhất của ngành nuôi ong mật đó là: Sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tính bền vững chưa cao, năng suất và chất lượng sản phẩm chưa ổn định làm giảm sức cạnh tranh; sự liên kết giữa các hộ nuôi ong và khai thác mật còn lỏng lẻo; nhiều đơn vị còn mua giống trôi nổi không rõ nguồn gốc, gây pha tạp, tỷ lệ cận huyết cao; quy trình kiểm soát chất lượng, quy trình khai thác, chế biến, bảo quản chưa chặt chẽ đã làm giảm chất lượng sản phẩm mật ong...

Từ thực tế phát triển tại địa phương, ông Nguyễn Đức Vinh cho rằng, để ngành nuôi ong mật phát triển bền vững, cần xây dựng và ban hành công bố tiêu chuẩn chất lượng cụ thể đối với sản phẩm mật ong bạc hà; tạo lập phần mềm thống kê, theo dõi diễn biến đàn, sản lượng mật, các cơ sở chế biến, thu mua, số lượng hộ tham gia nuôi ong trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra, kiểm soát việc vận chuyển, buôn bán sản phẩm mật ong; tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất kinh doanh mật ong trên địa bàn ký kết hợp đồng với những hộ nuôi ong nằm trong khu vực được chứng nhận chỉ dẫn địa lý để giúp quản lý đầu ra của sản phẩm một cách chặt chẽ.

Đồng quan điểm về vấn đề này, bà Hạ Thúy Hạnh kiến nghị, cần rà soát, điều chỉnh xây dựng quy hoạch và liên kết vùng, địa phương để đảm bảo lợi thế cạnh tranh, phát triển thương hiệu và chỉ dẫn địa lý; xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp để đảm bảo lợi ích của người nuôi ong và các hộ, thành phần xã hội liên quan; cán bộ khuyến nông tăng cường giới thiệu các tiến bộ kỹ thuật về giống, quy trình nuôi ong VietGAHP; kỹ thuật phòng và điều trị bệnh cho ong; đẩy mạnh liên kết sản xuất, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất.

Có thể nói, tiềm năng lớn, nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng mở, mật ong Việt Nam đang chờ đợi một hệ thống giải pháp đồng bộ để đi xa hơn nữa.

Nguyễn Hạnh

Mới nhất
Scroll