• Thứ năm 29/06/2017 15:51

Tái phân bổ đất lâm trường: Mới nằm trên giấy

07/04/2017

(VEN) - Trước sự yếu kém về trình độ quản lý, tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường của các công ty nông lâm nghiệp (NLN), Nghị quyết số 30/NQ-TW ngày 12/3/2014 và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP đã nêu bật việc rà soát, thu hồi, chuyển giao đất rừng đang sử dụng không hiệu quả cho chính quyền địa phương. Tuy nhiên, thực tế triển khai còn chậm và chủ yếu là trên giấy.  

tai phan bo dat lam truong moi nam tren giay

Chỉ có 415 nghìn ha đất rừng của công ty NLN được chuyển giao cho chính quyền địa phương và chủ yếu là trên giấy

Giao đất giao rừng vẫn còn trên giấy

Trước sự yếu kém của các công ty NLN, các chính sách gần đây về cải cách doanh nghiệp lâm nghiệp (Nghị quyết số 30/NQ-TW ngày 12/3/2014 và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty NLN) đã nêu bật việc phải ưu tiên rà soát, thu hồi, chuyển giao và phân bổ đất rừng đang sử dụng không hiệu quả cho chính quyền địa phương, ưu tiên phân bổ đất rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất hoặc thiếu đất sản xuất trong khu vực. Đây sẽ là nguồn đất quan trọng để phân bổ cho các hộ gia đình nghèo, giúp họ cải thiện sinh kế.

Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Anh Phong - Trung tâm Thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn (Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn), việc giao đất rừng cho chính quyền địa phương còn chậm. Sau khi chuyển đổi, tổng diện tích của công ty NLN giảm hơn 1.868 nghìn hecta, nhưng chỉ có 415 nghìn hecta đất rừng được chuyển giao cho chính quyền địa phương và chủ yếu trên giấy tờ.

Bên cạnh đó, công ty NLN và chính quyền địa phương áp dụng các tiêu chí đánh giá lên đất hoang hóa, đất của lâm trường giải thể hoặc các khu đất mà các công ty NLN không có đủ nguồn lực để quản lý và bảo vệ để giao; còn các tiêu chí khác như đất phân tán và có diện tích nhỏ, gần khu dân cư, đất sử dụng không hiệu quả... lại ít được chú ý tới. Kết quả là, phần lớn đất chuyển giao từ công ty NLN cho địa phương chưa được giao lại cho các hộ gia đình và cộng đồng. Ở một số vùng, đất rừng được các công ty NLN bàn giao cho chính quyền địa phương không phù hợp với điều kiện và tập quán sản xuất của người dân địa phương hoặc khó tiếp cận.

Bà Hồ Thị Con - cán bộ mặt trận của xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình cho biết: Bà con rất muốn có đất lâm nghiệp để mở rộng diện tích nhưng công ty lâm nghiệp chỉ giao nơi xa khu dân cư, xa đường đi lại nên không mấy ai mặn mà; còn nơi gần cộng đồng dân cư, thuận tiện về đường giao thông vẫn do các công ty lâm nghiệp quản lý.

Cũng theo bà Hồ Thị Con, để đảm bảo cuộc sống, có thu nhập ổn định, mỗi hộ dân phải có từ 5-7 ha đất lâm nghiệp để sản xuất và trồng rừng. Trong khi đó, các lâm trường, ban quản lý rừng phòng hộ quản lý phần lớn diện tích của toàn xã. Người dân thiếu đất sản xuất. Đây cũng là nguyên nhân gây ra những tranh chấp, lấn chiếm diễn ra hàng ngày.

Liên quan đến vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Danh - Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Gia Lai cho hay, có thể trên báo cáo, việc giao đất giao rừng đạt các mục tiêu đề ra, nhưng trên thực tế, tranh chấp đất đai giữa người dân với các công ty NLN vẫn là mâu thuẫn khó giải. Đơn cử như tại Công ty Lâm công nghiệp Kông Chiêng (Gia Lai), theo số liệu báo cáo của công ty, trong thời gian qua, đã có 12 vụ việc tranh chấp, lấn chiếm đất đai giữa công ty và người dân địa phương. “Sở dĩ tình trạng tranh chấp, lấn chiếm kéo dài là do việc quy hoạch, rà soát đất đai của công ty NLN chưa triệt để, nhiều diện tích đất rừng nằm trong khu vực dân cư, thuộc khu vực dễ xảy ra lấn chiếm. Mặc dù chính quyền và người dân địa phương đề nghị công ty giao lại các diện tích đất trên nhưng vẫn chưa được giải quyết. Quy trình quy hoạch, xây dựng đề án chủ yếu do các công ty thực hiện và được ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt nhưng thiếu sự tham gia, góp ý của cộng đồng”, ông Danh nó

Cần xây dựng khung chính sách tái phân bổ đất lâm trường

Theo các chuyên gia, quá trình rà soát và giao đất rừng không có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan, đặc biệt là người dân địa phương - những người đang rất bức xúc về vấn đề quản lý đất rừng tại địa phương. Mặc khác, các bên liên quan trong quá trình rà soát đất rừng của các công ty NLN lại không nắm rõ đầy đủ các chính sách có liên quan, đặc biệt là chính quyền địa phương và cộng đồng. Hai lý do này dẫn đến rất nhiều bất đồng và mâu thuẫn xã hội trong việc thực hiện rà soát, phân định ranh giới đất và giao đất lâm nghiệp cho người dân địa phương.

Ông Nguyễn Anh Phong kiến nghị, cần phải rà soát, quy chuẩn lại khung pháp lý cho việc thực hiện chính sách và đánh giá hoạt động giao đất lâm nghiệp, đặc biệt là đất của lâm trường, từ kinh nghiệm quốc tế để đưa ra một hệ thống giám sát cải tiến, sáng tạo. Một khuôn khổ chính sách mới với một hệ thống giám sát và đánh giá thường xuyên có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan sẽ giúp Quốc hội và các cơ quan chính phủ quản lý đất lâm nghiệp chủ động và hiệu quả hơn; giúp người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số có quyền tiếp cận tới tài nguyên đất một cách minh bạch và công bằng, từ đó cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo và quản lý bền vững đất rừng.

Ông Nguyễn Vinh Quang - Tổ chức Forest Trend cho rằng, cần thiết phải xây dựng tiêu chí, hạn điền và quy trình giao đất giao rừng có sự tham gia đầy đủ và thật sự của các bên liên quan. Khi giao đất giao rừng nên có tiêu chí về ưu tiên cho người dân tộc thiểu số tại chỗ, người nghèo, đồng thời ngăn chặn và giải quyết dứt điểm tình trạng người dân xâm canh xâm cư, phá rừng lấy đất canh tác, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, tranh chấp đất đai thông qua việc tăng cường sự tham gia, phối hợp của các bên liên quan trong thực thi và giám sát thực thi pháp luật lâm nghiệp tại địa phương. Hỗ trợ người dân kết nối với nhau và với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất quy mô lớn, tạo chuỗi giá trị hiệu quả cao và tiếp cận thị trường tiêu thụ lâm sản tốt hơn.

Trên địa bàn huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), đất lâm nghiệp tập trung ở hai xã Trường Sơn và Trường Xuân (chiếm 81,4% diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện), trong đó các lâm trường quản lý tới 91,5% diện tích đất lâm nghiệp, tương đương 91.464 ha, còn người dân địa phương chỉ được giao quản lý khoảng 5.400 ha (chiếm 5,4% diện tích đất lâm nghiệp).

Nguyễn Hạnh

Mới nhất
Scroll