• Thứ hai 22/04/2019 08:12

Tận dụng cơ hội, gia tăng xuất khẩu

06/04/2019

Nhằm thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia đàm phán và ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các đối tác lớn. Các FTA không chỉ tạo cơ hội mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu cho hàng hóa trong nước mà còn giúp doanh nghiệp (DN) chủ động hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh.  

Thị trường mở rộng

Việc mở rộng thị trường xuất khẩu (XK) sẽ được coi như là một chiến lược dài hạn nhằm giúp DN Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực, nâng cao năng lực sản xuất XK và cạnh tranh. Đồng thời, giúp DN trong nước cọ xát với DN khu vực và thế giới, có điều kiện để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) và khẳng định vị thế mới của mình trên trường quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà những lợi thế cạnh tranh như giá nhân công rẻ, lợi thế tài nguyên hiện đã dần bị thu hẹp, không có tính bền vững trong khi những yếu tố như thương hiệu, chất lượng sản phẩm cần một chiến lược phát triển và thời gian.

tan dung co hoi gia tang xuat khau
Doanh nghiệp được hưởng lợi lớn từ CPTPP

Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, trong 8 năm qua (2011-2018), thị trường XK của Việt Nam đã được mở rộng cả về quy mô thị trường và cơ cấu thị trường XK, mặt hàng XK, góp phần rất quan trọng vào tăng trưởng kim ngạch XK của cả nước.

Cụ thể, về quy mô thị trường XK, giai đoạn 2011-2018 là giai đoạn tăng trưởng vượt bậc về kim ngạch XK và nhập khẩu. Trong đó, tăng trưởng XK đã vượt mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Kim ngạch XK trong 8 năm tăng gấp 2,51 lần, từ 96,91 tỷ USD năm 2011 lên 243,48 tỷ USD vào năm 2018. Việt Nam đã nhanh chóng cải thiện vị thế để chiếm thứ hạng cao trên bản đồ xuất nhập khẩu thế giới. Nếu như năm 2007, Việt Nam đứng thứ hạng 50 thì đến 2017, đã vươn lên vị trí thứ 27 về XK.

Xét về quy mô thị trường XK, nếu năm 2011 chỉ có 24 thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD (trong đó có 3 thị trường trên 10 tỷ USD) thì đến năm 2018, có 31 thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD (trong đó, 4 thị trường đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD, 7 thị trường trên 5 tỷ USD).

Trong giai đoạn 2011-2018, hàng hóa Việt Nam đã tiếp tục khai thác các thị trường truyền thống và mở rộng tìm kiếm, phát triển thêm nhiều thị trường mới. Tính đến nay, hàng hóa của Việt Nam đã có mặt tại trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Về thị trường, trong giai đoạn này, khu vực thị trường châu Á luôn duy trì tỷ trọng khoảng từ 51% trong tổng kim ngạch XK hàng hóa trong nước. Tỷ trọng XK vào khu vực thị trường châu Mỹ và khu vực thị trường châu Âu duy trì trong khoảng 20-23%. Tỷ trọng khu vực châu Phi và châu Đại Dương thấp hơn so với 3 khu vực còn lại, tổng cộng hai khu vực này đạt khoảng 4%.

Kim ngạch XK sang các thị trường XK quan trọng của Việt Nam là Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), các quốc gia Đông Nam Á, Nhật Bản và Hàn Quốc đều có tăng trưởng cao trong giai đoạn 2011-2018. Trong đó, Trung Quốc và Hàn Quốc là hai thị trường có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất.

Điểm sáng các mặt hàng XK chủ lực

Cùng với kim ngạch tăng cao, các mặt hàng XK chủ lực đều thâm nhập được vào các thị trường lớn và có mức tăng trưởng tốt. Đơn cử, mặt hàng gạo đã XK sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh thị trường truyền thống như Trung Quốc, Philippines, mặt hàng gạo đã từng bước được mở rộng XK vào các nước châu Mỹ, Trung Đông. Sản phẩm gạo trắng cao cấp, gạo hạt tròn và gạo thơm đã bước đầu thâm nhập vào thị trường khó tính, giúp gạo Việt Nam từng bước hiện diện trên khắp thế giới.

Mặt hàng rau, quả đạt nhiều thành tích trong công tác mở rộng thị trường XK, thâm nhập vào các thị trường “khó tính” như vải, nhãn, chôm chôm, thanh long, vú sữa vào thị trường Hoa Kỳ; vải thiều vào thị trường Australia, Malaysia, EU (Pháp, Đức, Anh, Hà Lan); thanh long, xoài vào thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc; cam, quýt, thanh long vào thị trường Singapore…

Dệt may đạt mức tăng trưởng trên hai con số năm 2018 (đạt 30,5 tỷ USD, tăng 16,7%), với mức tăng trưởng cao tại các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ (tăng 11,6%, Nhật Bản (tăng 22,6%), Hàn Quốc (34,9%), Trung Quốc (tăng 39,6%), EU (9,9%). Tương tự, gỗ, sản phẩm gỗ và giày dép các loại cũng duy trì mức tăng trưởng tốt, đóng góp vào tổng kim ngạch XK.

Cũng theo đánh giá của Bộ Công Thương, ở tất cả các thị trường mà Việt Nam có ký kết FTA đều ghi nhận tăng trưởng vượt trội, thị phần XK tại các thị trường trọng điểm được khẳng định. Tăng trưởng XK trên nhiều thị trường đạt mức hai con số như XK sang Trung Quốc đạt 41,2 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm 2017, XK sang thị trường ASEAN đạt 24,74 tỷ USD, tăng 13,9%, XK sang Nhật Bản đạt 18,85 tỷ USD, tăng 11,8%, XK sang Hàn Quốc đạt 18,2 tỷ USD, tăng 22,8%.

Nhiều mặt hàng tận dụng tốt cơ hội từ cắt giảm thuế quan tại các thị trường có FTA để tăng trưởng. Sau khi Hiệp định thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-Australia-New Zealand (AANZFTA) có hiệu lực, với mức thuế suất thuế nhập khẩu về 0%, XK điều sang Australia tăng trưởng bình quân đạt 12,9%/năm, thủy sản đạt 6,9%/năm; hồ tiêu XK sang Nhật Bản tăng trưởng đạt 12,8%/năm, cà phê đạt 8,0%/năm sau khi Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJFTA) có hiệu lực; hay hồ tiêu XK sang Ấn Độ tăng trưởng đạt 14,3%/năm, thủy sản đạt 12,3% năm sau khi Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) có hiệu lực; sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEU) có hiệu lực, hạt điều XK sang Liên bang Nga tăng 59,6%, rau quả tăng 19,9%, dệt may tăng 53,5%...

Bộ Công Thương nhận định, sắp tới, khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực sẽ mở ra cơ hội để một số nhóm hàng phát triển bởi những cam kết rất "mở", tạo điều kiện thuận lợi cho XK ở cả nhóm hàng nông-lâm-thủy sản và nhóm hàng công nghiệp.

Phương Lan

Scroll