• Thứ ba 29/09/2020 22:25

Thu hút FDI: Những điểm nhấn năm 2020

11/01/2020

Thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) là một mảng sáng của bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2019, với số vốn đầu tư vượt dự báo, đạt 38,02 tỷ USD; giải ngân vốn FDI cũng đạt hơn 20,38 tỷ USD - mức cao nhất từ trước tới nay.

Những cột mốc mới

Con số 38,02 tỷ USD tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2019 là mức cao nhất trong khoảng 10 năm gần đây. Trong đó, vốn đăng ký của 3.883 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 16,75 tỷ USD, bằng 93,2% so với cùng kỳ năm 2018.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành kinh tế, chủ yếu là ngành chế biến, chế tạo với 24,56 tỷ USD, chiếm 64,6% vốn đăng ký; kinh doanh bất động sản 3,88 tỷ USD (10,2% vốn đăng ký); tiếp đó là các lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, khoa học - công nghệ.

thu hut fdi nhung diem nhan nam 2020
Ngành chế biến, chế tạo hút vốn FDI

Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 181,35 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2018 (68,8% kim ngạch xuất khẩu cả nước); kim ngạch nhập khẩu đạt 145,5 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ (57,4% kim ngạch nhập khẩu cả nước).

Trong số 126 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, Hàn Quốc đứng đầu với vốn đăng ký 7,92 tỷ USD, thứ hai là Hồng Kông với vốn đăng ký 7,87 tỷ USD, Singapore đứng thứ ba với vốn đăng ký 4,18 tỷ USD. Trong khi đó, lượng vốn FDI giải ngân của Việt Nam đạt 20,38 tỷ USD - mức cao nhất kể từ trước tới nay. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đánh giá, trong bối cảnh suy giảm chung của dòng FDI toàn cầu, việc Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng vốn thực hiện là thành quả đáng khích lệ. Theo các chuyên gia, phân bổ vốn FDI vào các ngành, lĩnh vực kinh tế có một số chuyển dịch tích cực đối với kinh doanh bất động sản do thị trường mở rộng, doanh nghiệp trong nước có tiềm lực mạnh hơn nên một số nhà đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết chuyển giao công nghệ mới, phương thức kinh doanh mới cho doanh nghiệp trong nước.

Hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) trở nên sôi nổi trong những năm gần đây, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng vốn đăng ký, tăng dần qua các năm. Nguyên nhân chính là do quy mô doanh nghiệp trong nước đã lớn mạnh tạo ra nguồn cung dồi dào cho M&A và chính sách mở cửa đối với thị trường chứng khoán. Đây là tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, chất lượng và hiệu quả FDI năm 2019 chưa đáp ứng được đòi hỏi của đất nước trong quá trình chuyển sang định hướng đổi mới, sáng tạo về khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng nền kinh tế số, tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Nhiều triển vọng năm 2020

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, với việc cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế đánh giá cao môi trường kinh doanh và đầu tư của Việt Nam,cùng với đó là một số FTA thế hệ mới bắt đầu có hiệu lực, triển vọng FDI năm 2020 được đánh giá rất khả quan.

Dự báo, tốc độ tăng vốn FDI thực hiện từ 7 - 8%, đạt 23 - 24 tỷ USD, chiếm 22 - 23% tổng vốn đầu tư xã hội. Đầu tư từ Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản và châu Á vẫn gia tăng. Cùng với đó, đầu tư từ Mỹ, Đức, Pháp, Anh và một số nước châu Âu khác vào lĩnh vực công nghệ hiện đại, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu và phát triển với nhiều dự án lớn cũng sẽ tăng.

Theo các chuyên gia, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ngoài đầu tư tại Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển ở những ngành thâm dụng lao động, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, dịch vụ tư vấn. Đồng thời, sẽ có nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới đầu tư những dự án quy mô lớn trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghệ tương lai, xây dựng thành phố thông minh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội.Đặc biệt, khi Chính phủ Mỹ áp đặt mức thuế nhập khẩu 25% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, nước này buộc phải tìm kiếm thị trường khác để tiêu thụ số hàng hóa không thể xuất khẩu sang Mỹ, gia tăng đầu tư ra nước ngoài nhằm đối phó với các biện pháp của Mỹ. Trong bối cảnh đó, Việt Nam là nước láng giềng có tiềm năng lớn, được các doanh nghiệp Trung Quốc tìm kiếm cơ hội để mở rộng quy mô thương mại hai chiều, tăng nhanh các dự án đầu tư trực tiếp. Do đó, Việt Nam cần nghiên cứu để nhận biết thách thức và cơ hội mới, có đối sách thích hợp với các doanh nghiệp Trung Quốc để bảo đảm lợi ích quốc gia trong việc hợp tác về thương mại và đầu tư giữa hai nước.

Trong thời gian tới, Việt Nam cần triển khai có hiệu quả Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị về hoàn thiện thể chế, chính sách trong đầu tư nước ngoài ưu đãi theo xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế; hài hòa với các cam kết quốc tế. Nâng cao tính đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch chính sách để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia đầu tư; đặt trụ sở và thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, gia tăng liên kết giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, khuyến khích chuyển giao công nghệ và quản trị cho doanh nghiệp Việt Nam.

Chính phủ sẽ tập trung tăng tốc cải thiện thủ tục hành chính, xây dựng thể chế kinh tế để các chủ thể kinh tế đều có quyền tham gia vào hoạch định kế hoạch phát triển và chính sách. Đồng thời, xây dựng cơ sở hạ tầng mềm, chuyển đổi nền kinh tế sang số hóa, đổi mới cơ chế tuyển dụng, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tận dụng Cách mạng công nghệ 4.0 làm động lực tăng trưởng đất nước.

Nguyễn Mai

Scroll